CHUYÊN MỤC HỌC TẬP: BÌNH LUẬN VỀ NỘI DUNG CỦA HIẾN PHÁP 2013

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiến Pháp là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia. Hiện nay, bất kì một đất nước nào trên thế giới, dù có theo một thể chế chính trị nào, đều phải có một đạo luật Hiên pháp riêng cho thể chế đó. Dù là bất thành văn hay thành văn thì Hiến pháp vẫn giữ một vị trí đặc biệt trong hệ thống pháp luật của quốc gia. Nếu không có Hiến pháp, hệ thống an ninh của đất nước đó sẽ không được bảo đảm và đất nước đó không thể tồn tại lâu dài. Hiến pháp giúp khẳng định chủ quyền của quốc gia; thể hiện một tổ chức nhà nước vững chắc, có thể đối mặt với bất kì mối đe dọa nào, bởi nội dung của Hiến pháp là minh chứng lớn nhất cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia đó


         Có thể nhận định: “Hiến pháp là nguồn gốc của tất cả các đạo luật chuyên ngành, giúp điều chỉnh tất cả các mối quan hệ phát sinh trong từng lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội của một quốc gia nhất định”. Một xã hội phát triển luôn luôn phải có những đạo luật chuyên ngành để phục vụ cho từng lĩnh vực xã hội. Nếu không có Luật hiến pháp, các đạo luật chuyên ngành không thể tham chiếu để tìm ra những chuẩn mực của đất nước đó – là cơ sở giúp các ngành luật xác định các vấn đề được hay không được làm trong lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của nó. Giữa các ngành khác nhau không ổn định, thì xã hội cũng không ổn định hay đất nước đó cũng không thể ổn định và tồn tại mà không gặp bất kì một sự cố nào.
Quyền con người, quyền công dân là tiền đề của Hiến pháp. Không một thể chế chính trị nào có thể phát triển mà không có sự tham gia, đóng góp của người dân; đồng thời quyền con người, quyền công dân của họ phải được nhà nước bảo đảm thì họ mới gắn bó lâu dài và làm ăn, sinh sống trên đất nước đó. Bất kì một bản Hiến pháp nào trên thế giới đều ghi nhận quyền con người, quyền công dân. Nhà nước được thành lập do quá trình đấu tranh lâu dài của người dân để chống lại những áp bức, bóc lột của chế độ cũ, với mong muốn lập nên một chế độ mới có thể bảo hộ cho họ. Chính vì vậy, Hiến pháp phải bảo vệ những quyền tự nhiên của con người và phải thể hiện ý chí của người dân với chế độ bằng việc trao quyền công dân cho họ. Có được quyền con người, quyền công dân thì đó mới là một bản Hiến pháp đúng nghĩa.
Nhận thấy được tầm quan trọng của Hiến pháp đối với mỗi quốc gia trên thế giới, em đã tìm hiểu về quá trình lập hiến và các bản Hiến pháp ở Việt Nam. Đây là một chủ đề hết sức thú vị, đã có rất nhiều bái báo, luận văn, đề tài nghiên cứu về nó. Đặc biệt, với bản Hiến pháp năm 2013, trên tinh thần tiếp thu những nội dung của các bản hiến pháp trước và sửa đổi, phát triển thêm những nội dung mới phù hợp hơn với tình hình phát triển đất nước hiện nay. Đó chính là những lí do mà em lựa chọn chủ đề số 3 về “Nội dung của hiến pháp 2013 và ý nghĩa của những nội dung này đối với sự phát triển của đất nước hiện nay.”
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nội dung của mỗi văn bản pháp luật luôn được đề cập đến nhiều trong các bài báo, tác phẩm có liên quan về việc áp dụng và thực thi nó. Đặc biệt Bài báo “Bảo đảm để Hiến pháp năm 2013 thật sự đi vào đời sống” đăng trên báo Nhân dân ngày 06/05/2014 bàn về vấn đề tổ chức nhà nước theo hiến pháp 2013 – đây là một trong những nội dung cơ bản của Hiến pháp 2013. Việc tổ chức các bộ máy cơ quan mới trong nhà nước theo Hiến pháp 2013 là một trong những vấn đề quan trọng, đòi hỏi phải làm đúng theo tinh thần hiến pháp, không được tổ chức thực hiện sai vì lí do chưa nắm rõ các quy định mới về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước. Mối quan hệ phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; xác định rõ hơn chức năng, thẩm quyền của cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và điều chỉnh lại một số nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này đã được làm rõ trong Hội thảo khoa học “Tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013”
Các đề tài, nghiên cứu về Luật hiến pháp 2013 của các tác giả về nội dung của Luật hiến pháp khá sôi nổi, từ những vấn đề chung nhất cho đến những vấn đề cụ thể các khai niệm mới trong hiến pháp, các vấn đề lý luận, thực tiễn qua lần chuyển đổi này, về quyền con người, quyền công dân… Tiêu biểu là các sách chuyên khảo “Những vấn đề về hiến pháp và sửa đổi hiến pháp”(2012), “ABC về Hiến pháp”(2013) của GS.TS Nguyễn Đăng Dung; sách tham khảo “Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013”(2014) của nhiều tác giả, chủ biên là GS.TSKH Đào Trí Úc, PGS.TS Vũ Công Giao; các luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Hà về “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua lần sửa đổi Hiến pháp 2013” (2015) và luận văn thạc sĩ của Trần Thị Vân về “Chủ nghĩa Hiến pháp và vấn đề bảo vệ quyền con người”(2016)
Các tác phẩm đã cụ thể hóa những nội dung của Luật hiến pháp 2013 và cụ thể hóa, phát triển thêm những nội dung mới mẻ, trên cơ sở tiếp thu những tư tưởng tiến bộ cho thấy “Nội dung của Hiến pháp 2013” là một chủ đề sôi nổi trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Với vốn kiến thức của mình những nội dung đề cập tiếp theo của cá nhân em là sự tổng kết dựa trên những kinh nghiệm của các tác phẩm trên cùng một số tài liệu tham khảo khác và những quan điểm riêng của cá nhân về nội dung của Hiến pháp 2013, đồng thời phân tích ý nghĩa trước tinh hình phát triển của đất nước.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của bài tiểu luận là tìm hiểu những nội dung của Hiến pháp 2013 để làm sáng tỏ những nhận định cá nhân ở phần mở đầu về Hiến pháp: là đạo luật quốc gia, là nguồn gốc cùa các đạo luật chuyên ngành và thể hiện quyền con người, quyền công dân. Chứng minh những nội dung trên đều được thể hiện ở trong bản Hiến pháp 2013 của Việt Nam. Dựa trên tinh hình phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam để đưa ra và phân tích ý nghĩa của các nội dung của bản Hiến pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng của bài tiểu luận là những quy định được quy định trong Luật Hiến Pháp 2013 và dựa trên những tham khảo trong các bài viết chuyên ngành. Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn trong những nội dung của bản Hiến pháp, có những ý kiến đánh giá chủ quan của cá nhân, nhưng mang tính chất chung, không đề cập chi tiết vào các vấn đề cụ thể.
5. Ý nghĩa của đề tài
Những vấn đề lý luận mang tính tổng quan luôn đòi hỏi người viết phải có cái nhìn chi tiết về từng vấn đề, khía cạnh trong Luật hiến pháp, từ đó sẽ chỉ ra được những vấn đề lý luận quan trọng, giúp định hướng cho các hoạt động nghiên cứu cụ thể sau này. Với tầm nhìn hạn hẹp của cá nhân em, hy vọng sẽ hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất có thể.
6. Kết cấu của đề tài
Chương 1: Hiến pháp 2013 – Những nội dung cơ bản
Chương 2: Ý nghĩa của Hiến pháp 2013 với sự phát triển của đất nước hiện nay







NỘI DUNG
CHƯƠNG I
HIẾN PHÁP 2013 – NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
1. Khái quát chung về lịch sử lập hiến và bối cảnh ra đời của bản Hiến pháp 2013
1.1. Lịch sử lập hiến
Sự kiện chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có ý nghĩa vô cùng to lớn cho nền lập hiến nước nhà. Sau khi giành được chính quyền ở miền Bắc, việc bắt tay ngay vào xây dựng chính quyền mới là điều cấp thiết và vô cùng quan trọng. Bản “Tuyên ngôn độc lập” đã khẳng định chủ quyền và vị thế của thể chế mới ở Việt Nam, đó chính là thể chế Cộng hòa. Bản Hiến pháp 1946 ra đời (ngày 9/11/1946) đã một lần nữa khẳng định độc lập dân tộc và chủ quyền nhân dân, phản ánh tư tưởng xây dựng một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt thuộc về nhân dân, khẳng định khối đại đoàn kết toàn dân không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo và giai cấp, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Bản Hiến pháp này gồm 70 điều, phân bố thành 7 chương.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử và chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống Mỹ ở Miền Nam, Hiến pháp 1959 ra đời (ngày 18/12/1959) đã phản ánh quá trình chuyển đổi từ nền dân chủ nhân dân sang nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mở đầu cho quá trình đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Việt Nam. Bản Hiến pháp 1959 gồm 10 chương, 112 điều. Sau thắng lợi của chiến dịch mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Bản Hiến pháp 1980 ra đời (ngày 18/12/1980) với vai trò củng cố toàn bộ lãnh thổ của nước nhà, đồng thời tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn đất nước. Bản Hiến pháp gồm 12 chương và 147 điều. Tiếp đến là bản Hiến pháp năm 1992 ra đời (ngày 15/4/1992) với mục tiêu khắc phục những sai lầm khi xây dựng nền kinh tế tập trung, bản Hiến pháp đã đánh dấu chủ trương đổi mới của Đảng, nhà nước; tiến lên xây dựng nền kinh tế thị trường, hội nhập nền kinh tế nước nhà với nền kinh tế thế giới. Bản Hiến pháp gồm 12 chương và 147 điều.
1.2. Sự ra đời của bản Hiến pháp 2013
Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đến nay, tình hình trong nước, khu vực và quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạp hơn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây chính là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự ra đời của bản hiến pháp mới. Với cách tiếp cận theo phương pháp khác về quyền con người so với các bản hiến pháp trước, phân công rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước, bổ sung thêm chương về chính quyền địa phương và  hai thiết chế hiến định độc lập là Hội đồng Bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước; Hiến pháp 2013 ra đời (ngày 28/11/2013) với bố cục 11 chương, 120 điều, giảm 01 chương và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992.
2. Nội dung của Hiến pháp 2013
Mở đầu bản Hiến pháp là Lời nói đầu. Được xây dựng trên cơ sở chắt lọc, lựa chọn  ý tứ, từ ngữ để nêu bật được một cách ngắn gọn, súc tích tinh thần, nội dung của Hiến pháp, phản ánh được lịch sử hào hùng của dân tộc, những mốc lịch sử quan trọng, thành quả cách mạng to lớn mà Nhân dân ta đã đạt được. Lời nói đầu của Hiến pháp đã thể hiện rõ mục tiêu dân chủ và khẳng định chủ quyền của Nhân dân Việt Nam trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời thể hiện tinh thần thay đổi vì mục tiêu mới trong thời đại mới. Việc liệt kê các bản Hiến pháp trước đây mang ý nghĩa cầu tiến cho một mục tiêu mới.
Tiếp ngay sau lời nói đầu là Chế độ chính trị. Đây là chương đầu tiên mà bất kì một quốc gia nào đều đề cập đến. Bởi việc khẳng định hình thức nhà nước ngay đầu bản Hiến pháp khẳng định các nguyên tắc chung, xuyên suốt Hiến pháp, là cơ sở tham vấn, đối chiếu của nhiều đạo luật chuyên ngành. Chương I của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở sửa đổi tên Chương I của Hiến pháp năm 1992 (Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- Chế độ chính trị) và gộp với Chương XI của Hiến pháp năm 1992 (Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốc khánh). Hiến pháp 2013 quy định về chế độ chính trị như sau:
- Khẳng định Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời (Điều 1);
- Thể hiện xuyên suốt, nhất quán quan điểm “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” và nhấn mạnh quyền làm chủ của nhân dân đối với đất nước(Điều 2);
- Hiến pháp thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân đồng thời bổ sung và phát triển nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) theo tinh thần của Cương lĩnh. Nguyên tắc “kiểm soát quyền lực”  lần đầu được ghi nhận trong Hiến pháp. Kiểm soát quyền lực là nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền để các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp thực thi có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiến pháp và pháp luật, tránh việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực. Nguyên tắc này đã được thể hiện trong các Chương V,VI, VII, VII, VIII và IX của Hiến pháp và tạo cơ sở hiện định cho việc tiếp tục thể chế hóa trong các quy định của các luật có liên quan.
- Bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân mà đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đồng thời, quy định về trách nhiệm của Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình(Điều 4).
- Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp” được ghi nhận và phát triển thành nguyên tắc trong Hiến pháp. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước (Điều 6).
- “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” (Điều 5).
Thể hiện rõ hơn tư tưởng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong Lời nói đầu, trong quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn (Điều 9, Điều 10) và trong các điều khoản cụ thể khác của Hiến pháp. Hiến pháp quy định vai trò của Mặt trận trong tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, giám sát, phản biện xã hội; đồng thời tiếp tục khẳng định trách nhiệm của Mặt trận tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 9). Vai trò, trách nhiệm của Công đoàn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước (Điều 10). Việc ghi nhận vị trí, vai trò của Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội nòng cốt trong việc đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình, cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoản 2 Điều 10).
- Chính sách đối ngoại của nước ta được quy định phù hợp hơn với tình hình mới; khẳng định nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới (Điều 12).
Chương II của Hiến pháp 2013 đã thể hiện rất rõ những quyền con người, quyền công dân cơ bản, thể hiện và có phần tốt hơn so với các bản Hiến pháp trước kia, nhằm khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền còn người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp, thể hiện nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đây là chuẩn mực của một bản Hiến pháp đã nhấn mạnh được vai trò của con người đối với thể chế chính trị. Đồng thời cũng thể hiện cơ sở tham chiếu cho ngành luật dân sự, luật hôn nhân gia đinh và các ngành luật khác có liên quan.
Những điểm nổi bật của chương này được thể hiện như sau:
- Khẳng định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14). Nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên được quy định để phù hợp hơn với các công ước quốc tế mà Việt Nam mới gia nhập từ sau năm 1992. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (Điều 14). Việc hạn chế quyền con người, quyền công dân không thể tùy tiện mà phải “theo quy định của luật”.
- Khẳng định và làm rõ nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản cảu công dân trong Hiến pháp theo hướng: quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15).
- Trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân. Đó là quyền sống (Điều 19), quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác (Điều 20), quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21), quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36), quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41), quyền xác định dân tộc (Điều 42), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43),...
- Bên cạnh các quyền, Hiến pháp còn quy định cụ thể các nghĩa vụ cơ bản của công dân  như nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44), nghĩa vụ quân sự (Điều 45), nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46); riêng nghĩa vụ nộp thuế được sửa đổi về chủ thể là mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định (Điều 47) mà không chỉ công dân có nghĩa vụ nộp thuế như Hiến pháp năm 1992.
Quyền và nghĩa vụ luôn luôn phải được song hành với nhau, nhà nước đã trao quyền cho người dân, bên cạnh đó người dân phải tôn trọng những điều mà nhà nước đã trao cho và không vi phạm những quy định mà nhà nước đã chỉ ra đó là nghĩa vụ mà người dân phải làm. Đây chính là tinh thần của Chương II.
Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường là những nội dung tiếp theo được quy định trong Chương III của bản Hiến pháp 2013; đây chính là cơ sở tham chiếu cho các ngành luật chuyên ngành như: kinh tế, đất đai, môi trường, giáo dục… Mà quan trọng nhất đó chính là kinh tế, đất đai, môi trường; ba lĩnh vực xuất hiện nhiều và chi phối  trong đời sống xã hội.
Về kinh tế: quy định nước Cộng hòa XHCN Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Điều 50).
- Về tính chất, mô hình nền kinh tế: Hiến pháp quy định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo (Điều 51); khẳng định Nhà nước và kinh tế nhà nước có vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Hiến pháp quy định các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật (Điều 51). Vai trò của doanh nghiệp, doanh nhân được ghi nhận trong Hiến pháp (khoản 3 Điều 51). Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải hoạt động theo cơ chế thị trường, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp, các cơ chế, chính sách tạo ra sự bất bình đẳng
- Về các thành phần kinh tế: Hiến pháp ghi nhận, tôn trọng đa dạng hình thức sở hữu, bảo hộ quyền sở hữu tư nhân cả về tư liệu sản xuất, các quyền tài sản và sở hữu trí tuệ; khẳng định đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý (Điều 53).
- Về hình thức sở hữu: Về quản lý và sử dụng đất đai: Đất đai là lãnh thổ thiêng liêng của quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước. Hiến pháp quy định “quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ” (khoản 2 Điều 54) để thể hiện thái độ tôn trọng, bảo vệ của Nhà nước đối với quyền sử dụng đất của công dân, vừa tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tiếp tục phòng, chống và xử lý nghiêm minh các trường hợp sai phạm trong thực hiện pháp luật về đất đai. Hiến pháp quy định Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (khoản 3 Điều 54). Hiến pháp quy định việc thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội gắn trực tiếp với các mục tiêu vì lợi ích quốc gia, công cộng; việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 54). Vấn đề trưng dụng đất có thời hạn trong một số trường hợp đặc biệt như chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh, trường hợp phải đối phó với nguy cơ hoặc khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh (khoản 4 Điều 54) để thống nhất với quy định tại Điều 32 của Hiến pháp về trưng dụng tài sản, đồng thời làm cơ sở cho việc cụ thể hóa các quy định về trưng dụng đất trong Luật đất đai và các luật có liên quan.
- Về tài chính công: điều 55 khẳng định vai trò của tài chính công, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức sử dụng tài chính công và tạo cơ sở hiến định cho việc thiết lập kỷ luật tài chính. Theo đó, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong đó ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm nhiệm vụ chi của quốc gia. Các khoản thu, chi ngân sách nhà nước phải được dự toán và do luật định.
-Về xã hội, văn hóa: Hiếp pháp tổng quát các chính sách lao động (Điều 57); Chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân (Điều 58); Chính sách xã hội (Điều 59); Chính sách văn hóa (Điều 60). Các chính sách đều thể hiện sự quan tâm đến đời sống của nhân dân, nâng cao mức sống, chất lượng cuộc sống của nhân dân là một trong những vai trò của Nhà Nước.
-Chính sách giáo dục, khoa học công nghệ: Hiến pháp quy định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục…; Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề (Điều 61). Hiến pháp quy định phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. (Điều 62). Giáo dục và khoa học công nghệ là hai lĩnh vực mà nhà nước tập trung hàng đầu. Xác định đây là một trong hai lĩnh vực giúp phát triển đất nước.
-Về chính sách bảo vệ môi trường: Hiến pháp quy định Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại (Điều 63).
Chương IV khẳng định và làm sâu sắc hơn vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, sự gắn kết giữa nhiệm vụ đối ngoại với quốc phòng, an ninh trong việc xây dựng đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện nghĩa vụ quốc tế và góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Mặc dù vị trí của chương có phần chưa phù hợp, nhưng sự xuất hiện của chương cũng giúp khẳng định thêm vị thế của bản Hiến pháp.
Chương V, VI, VII, VIII, IX, X cụ thể hóa quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, Hiến pháp định danh và làm rõ hơn nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; xác định rõ hơn chức năng, thẩm quyền của cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và điều chỉnh lại một số nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này; bổ sung một số thiết chế hiến định độc lập là Hội đồng bầu cử quốc gia và kiểm toán nhà nước.
- Chương V quy định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69). Quy định quyền quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các quy định liên quan đến ngân sách nhà nước(Khoản 3,4 điều 70). Thẩm quyền của Quốc hội trong việc phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (khoản 7 Điều 70), trong việc giám sát, quy định tổ chức và hoạt động, quyết định nhân sự đối với Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập (các khoản 2, 6, 7 và 9 Điều 70).
- Chương VI quy định vị trí, vai trò của Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Hiến pháp sắp xếp, bổ sung để làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Chương VII  quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ: là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và cơ quan thực hiện quyền hành pháp và thẩm quyền đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hành pháp quy định tại Điều 96 của Hiến pháp. Phân định rõ thẩm quyền của Chính phủ trong việc tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70 của Hiến pháp.
+ Về Thủ tướng Chính phủ: thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ; lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia; bổ sung thẩm quyền quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Điều 98).
+ Về Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ: các thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ (Điều 95).  Quy định “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý” (khoản 2 Điều 99).
- Chương VIII quy định Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102). Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (khoản 3 Điều 102). Chương VIII cũng quy chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp (khoản 1 Điều 107).
- Chương IX quy định về đơn vị hành chính (Điều 110) và tổ chức chính quyền địa phương (Điều 111). Và nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được quy định tại điều 112. Về địa vị pháp lý và chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương (Điều 113). Hiến pháp 2013 đã quy định cụ thể hơn về bộ máy của chính quyền địa phương, không quy định đơn giản về Hội Đồng Nhân Dân và Ủy Ban Nhân Dân như Hiến pháp 1992
-  Hội đồng bầu cử quốc gia (Điều 117) và Kiểm toán nhà nước(Điều 118) là hai nội dung mới mẻ được bổ sung Chương X vào Hiến pháp 2013 để làm rõ hơn quyền làm chủ của Nhân dân, cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Cuối cùng, Chương XI khẳng định Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất; mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp; đồng thời, bổ sung và quy định rõ mọi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý cũng như trách nhiệm của Quốc hội và các cơ quan nhà nước cũng như toàn dân trong việc bảo vệ Hiến pháp (Điều 119) và đưa ra quy trình sửa đổi Hiến pháp, Hiến pháp đã cụ thể hóa các quy định về thẩm quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp, thủ tục soạn thảo Hiến pháp, quy trình thông qua Hiến pháp (Điều 120).
Như vậy, xuyên suốt nội dung của Hiến pháp 2013, chúng ta có thể nhận thấy bản Hiến pháp vừa thỏa mãn 3 yếu tố: là đạo luật quốc gia, là là nguồn gốc cùa các đạo luật chuyên ngành và thể hiện quyền con người, quyền công dân. Đồng thời, bản Hiến pháp còn có nhiều quy định phù hợp với nền kinh tế thị trường của nước ta trong thời đại mới, đồng thời có những quy định cụ thể, chi tiết về bộ máy chính quyền ở cấp địa phương và đảm bảo quyền làm chủ của công dân đối với đất nước, không chỉ thông qua quyền bầu cử mà còn được giám sát thông qua Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước.
CHƯƠNG II
Ý NGHĨA CỦA HIẾN PHÁP 2013 VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Từ những nhận định và phân tích nội dung bản Hiến pháp 2013, cùng sự tìm hiểu, tham chiếu về những điểm mới so với bản Hiến pháp 1992, có thể thấy những thay đổi của Hiến pháp mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Sự phân cấp bộ máy nhà nước rõ ràng và công khai, dân chủ là tiền đề cho sự phát triển của đất nước. Bộ máy nhà nước làm tốt nhiệm vụ của mình sẽ giúp cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế được thúc đẩy. Bên cạnh đó, nhân dân được thể hiện ý chí của mình cũng góp phần giúp cho bộ máy nhà nước được hoàn thiện hơn. Giữ vững mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế thị trường cần có những thay đổi phù hợp, để tránh phạm phải những sai lầm của các thời kỳ trước. Hiến pháp thay bổi, bổ sung thêm các quy định mới và lược bỏ những quy định cũ giúp cho nền kinh tế thoát khỏi những ràng buộc của những chính sách cũ. Tạo điều kiện cho các thành phần của nền kinh tế phát triển trong thời kì mới, thúc đẩy các chủ thể kinh tế hoạt động theo mô hình có tổ chức, tạo thêm việc làm cho người dân, tăng thu nhập cho xã hội. Nhà nước đã nhận thấy được trong giai đoạn tiếp theo nền kinh tế sẽ tiếp tục có nhiều thay đổi, khi nền công nghệ thế giới đang phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế theo hướng ngày môt hiện đại hóa. Những quy định chung về kinh tế nhưng bao quát trong Hiến pháp là cơ sở để các ngành luật kinh tế, thương mại, chứng khoán, đầu tư, doanh nghiệp… sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển tiếp theo của nền kinh tế. Trong tương lai sự xuất hiện và bùng nổ của nhiều ngành nghề mới sẽ làm thay đổi nhiều mặt trong các lĩnh vực kinh tế cụ thể. Xây dựng cơ sở tham chiếu ngắn gọn, nhưng bao quát là cần thiết.
Đời sống xã hội, mức sống, chất lượng cuộc sống của người dân trong thời kỳ mới cũng có rất nhiều những thay đổi đáng kể bởi công nghệ. Việc nâng cao dân trí và trú trọng phát triển khoa học công nghệ được quy định trong Hiến pháp giúp tạo điều kiện cho toàn dân được hưởng những thành tựu công nghệ và phát triển toàn diện về kiến thức, góp phần phát triển nền văn hóa nước nhà. Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến nhân dân, Nhà nước sẽ tạo mọi điều kiện để giúp cho toàn dân phát triển, nâng cao mức sống, chất lượng cuộc sống, góp phần phát triển và ổn định xã hội trong thời kỳ tiến lên quá độ của chủ nghĩa xã hội hiện nay. Bên cạnh đó, việc quy định về đất đai và môi trường. Hai lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến cuộc sống của người dân giúp cho việc kiểm soát và bảo vệ chất lượng cuộc sống được bảo đảm hơn. Nhất là trong tình trạng “trái đất nóng lên” như hiện nay. Tuy nhiên, trước nhiều vụ việc liên quan đến đất đai và đặc biệt là ô nhiễm môi trường trong thời gian gần đây, vai trò của các cơ quan chức năng, mặc dù đã được phân công rõ ràng dựa trên quy định của Hiến pháp và các đạo luật liên quan, nhưng vẫn chưa kịp thời xử lý và đảm bảo cuộc sống cho người dân bị ảnh hưởng. Phải chăng, những quy định về thủ tục và xử lý vi phạm hành chính đối với các cơ quan nhà nước trong việc chậm khắc phục xử cố còn được xem nhẹ, nên chưa thấy rõ được trách nhiệm cũng như việc nhà nước phân quyền chưa có hiệu quả.
Nền tài chính là một trong những vấn đề có ý nghĩa khá quan trọng trong thời kỳ mới. Bất kể một ngành nghề kinh tế, hay những cá nhân nào trong xã hội đều liên quan đến tài chính nước nhà. Từ hoạt động mua bán, hàng hóa thông thường được điều chỉnh bởi thuế giá trị gia tăng; cho đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; các hoạt động đầu tư xây dựng công trình công cộng, giao thông; các dự án kinh tế đều liên quan đến ngân sách nhà nước. Việc quy định về ngân sách trong Hiến pháp giúp tạo lập được những quy định chung cho Luật tài chính, tạo ra cơ chế kiểm soát ngân sách từ trung ương đến địa phương thông qua các cơ quan kiểm toán, đặc biệt là Kiểm toán nhà nước, giúp tạo sự tin tưởng cho nhân dân về những đóng góp của mình cho ngân sách nước nhà. Việc lạm dụng, lạm thu ngân sách ở địa phương hay trung ương sẽ ít xảy ra hơn, khi được quy định trong Hiến pháp, đây là rào cản cho những hành vi tham nhũng ngân sách khó thể thực hiện.
Hiến pháp 2013 tạo sự kết nối với người dân, người dân có thể tham gia đóng góp ý kiến và được theo dõi các buổi làm việc của Quốc hội hay Chính phủ được phát sóng trên truyền hình quốc gia đã giúp tăng quyền làm chủ cho người dân. Người dân được đóng góp công sức, ý tưởng của mình thông qua người đại diện ở địa phương mình tham gia vào các kỳ họp Quốc hội và nghe trả lời từ cơ quan nhà nước. Đây là điểm mới tạo nên sự tin tưởng và gắn bó cho người dân, phát huy tối đa quyền con người, quyền công dân trong xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, trong thời kỳ mới Hiến pháp đóng vai trò quan trọng và to lớn, là nguồn gốc của tất cả các ngành luật chuyên ngành, phát triển hơn nữa nền kinh tế thị trường nhiều thành phần; quyền làm chủ đất nước của nhân dân; cũng như việc nhà nước đảm bảo cho toàn dân phát triên chính là một trong những ý nghĩa của Hiến pháp 2013 đối với sự phát triển của Việt Nam. Đây là một “đạo luật quốc gia” chuẩn mực của đất nước trong thời kỳ mới, trên cơ sở tiếp thu và sửa đổi, bổ sung các bản hiến pháp trước kia, trước những thay đổi quan trọng của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
KẾT LUẬN
Hiến pháp 2013 có tầm quan trọng rất lớn đối với tình hình phát triển của Việt Nam hiện nay. Việc nghiên cứu các nội dung của bản Hiến pháp mới đòi hỏi những kỹ năng phân tích hành chính, hiến pháp chuyên nghiệp. Dựa trên những kỹ năng và kiến thức cơ bản, bài tiểu luận đã chỉ ra những nội dung cơ bản nhất của Hiến pháp 2013 và đưa ra ý kiến, đánh giá về ý nghĩa của bản Hiến pháp.
Hiến pháp 2013 đã có những nội dung phù hợp hơn với thời kỳ mới so với bản hiến pháp trước đây. Vai trò của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế- xã hội. Việc phân công, phối hợp điều hành giữa các cấp; việc phân quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp từ trung ương đến địa phương là cơ sở để điều hành các hoạt động của nền kinh tế thị trường và đảm bảo xã hội ổn định nhờ những chính sách kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường. Nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân là mối quan tâm lớn nhất của nhà nước.
Mặc dù vậy, bản Hiến pháp vẫn có những hạn chế nhất định, việc thực thi quyền lực và vai trò của các cơ quan nhà nước còn chưa được thực hiện hoàn chỉnh. Tuy nhiên trên cơ sở là “đạo luật quốc gia”, Hiến pháp 2013 về cơ bản đã hoàn thành được mục tiêu, xứ mệnh của nó.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GS.TS Nguyễn Đăng Dung, TS Đặng Minh Tuấn (2013), Giáo trình luật Hiến
pháp Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Văn Chúc (2014), Bảo đảm để Hiến pháp năm 2013 thật sự đi vào đời sống Nguồn: https://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/23119302-bao-dam-de-hien-phap-nam-2013-that-su-di-vao-doi-song.html
3. Sở tư pháp Kon Tum Những điểm mới về kinh tế trong Hiến pháp năm 2013 (2014), Nguồn:
http://sotuphap.kontum.gov.vn/KonTum/310/Nhung-diem-moi-ve-kinh-te-trong-Hien-phap-nam-2013.aspx
4. Phân tích toàn văn Hiến pháp 2013 Nguồn: https://danluat.thuvienphapluat.vn/phan-tich-toan-van-hien-phap-2013-128337.aspx

Đây là bài bình luận, có tham khảo, hi vọng độc giả không sao chép nguyên văn vì còn nhiều lỗi chuyên môn!
full-width

Post a Comment

0 Comments